Võ
Học Bình Định.

Mảng vui Hương Thủy, Ngự Bình
Ai vô Bình Ðịnh với mình thì vô
Chẳng lịch bằng đất kinh đô
Nhưng Bình định không đồng khô cỏ cháy
Ba dòng sông chảy
Bảy dãy non cao
Biển Ðông sóng vỗ dạt dào
Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh...
Câu ca dao trên
là bức tranh phác họa miền Ðất Võ, xứ Bình định. Ðó
là miền đất cách Kinh thành Huế
407 cây số về phía đông
nam, có ba mặt núi non hiểm trở. Phía tây dựa lưng vào dãy
Trường sơn trùng điệp, phải qua
đèo An khê dốc đứng, vượt
sông Ba rồi lên đèo Măng giang mới tới được vùng Tây
nguyên. Phía bắc có dãy Thạch tấn
nối từ Trường sơn ra
tận biển, ngăn cách hai tỉnh Quảng ngãi và Bình định,
chỉ còn thông nhau qua đèo Bình đê.
Phía nam có dãy Nam sơn,
còn gọi là núi Bình san, với các ngọn như hòn Oâng, hòn Bà
(cao 1100 mét), hòn Am,
hòn An tượng, ngăn cách Bình định và
Phú yên. Muốn vào nam phải vượt đèo Cù mông. Phía đông
giáp biển, trải dài
100 cây số.
Bờ biển lại gập
ghềnh, lồi lõm với nhiều cửa như Thiện chánh, Cà công,
Hà ra, Phú thứ, Ðề gi, Thị nại.
Bình định
có hai con sông lớn chắn ngang. phía bắc là sông Lại giang,
còn gọi là Lại dương, bắt nguồn từ hai
vùng núi An lão
và Kim sơn, đổ ra biển qua cửa An giũ. Phía nam cũng có
một sông tương xứng: sông Côn, chia làm
ba nhánh chảy vào
đầm
Thị nại.
Ngoài ba dãy
núi và hai sông chính, Bình định còn nhiều nhánh núi tẻ
ra từ dãy Trường sơn và có sông La tinh nằm
vắt ngang
giữa tỉnh. Núi, sông xen kẽ với đồng bằng, tạo cho
miền này một địa hình phức tạp.
Các nhà
phong thổ học nhìn cuộc đất Bình định như một cái ngai
vàng khổng lồ. Tay vịn phía tả là dãy Thạch tấn.
Tay
vịn phía hữu là dãy Nam sơn. Lưng dựa là dãy Trường sơn,
mặt quay về hướng đông lồng lộng trời cao biển cả.
Rải rác đó đây là những ngọn tháp Chàm còn sót lại. Ở
huyện Phù cát có tháp Phúc Lộc tục gọi là Phốc Lốc. An
nhơn có
Tháp Cánh Tiên.
Tuy phước có chùm tháp Bánh Ít, tháp
Thanh trúc ở Bỉnh lâm, tháp Long triều ở Xuân mỹ. Qui nhơn
có
Tháp Ðôi. Bình khê có tháp Thủ thiện và chùm tháp Dương
long. Những tháp cổ cao vút lên nền trời, trông như những
cây bút khổng lồ " ghi tiếng anh hào vào mây xanh ".
Với bốn
mặt núi sông biển vây phủ, lại thêm thiên tai bão lụt thường
xuyên, người dân miền này muốn sinh tồn phải
cần thích
ứng với miền đất hiểm trở, đầy bất trắc. Ðấy là
nhân tố để cho võ nghệ Bình định nẩy nở. Rồi ngành
dệt phát triển,
nghề chạm cẩn tinh vi, lại có những đặc
sản như bánh tráng, bún Song Thằng, nón Gò Găng, gốm Chợ
Gồm, ngói Phú phong...
Hải sản Bình định thì quá dư dả,
cần phải thông ra ngoài, tìm thị trường tiêu thụ hoặc
trao đổi :
Ai
về nhắn với nậu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gởi lên
(Ca dao)
Thời trước
buôn bán với "nậu nguồn" là quan trọng hơn cả. Lượt
lên mang cá khô, mắm, muối. Chuyến về chở
măng le, trầu
nguồn, rễ nài. Vốn một lời mười. Tổ phụ của Nguyễn
Nhạc là Hồ Lang, chuyên nghề buôn bán trầu nguồn.
Ðến
thời Hồ Phi Phúc, rồi Nguyễn Nhạc cũng nối nghiệp cha ông.
Số người buôn bán hàng chuyến rất đông. Chở hàng
ra
Quảng, vào Nam, lên Tây nguyên đều có cả. Vì vậy võ
nghệ cần được phổ biến và phát huy để hộ tống hàng
hoá vượt đèo,
qua sông, vừa chống chỏi với mãnh thú,
vừa đề phòng nạn trộm cướp dọc đường hoặc ngay
tại nhà. Không những đàn ông
mà ngay cả đàn bà, trẻ con
cũng phải học võ hộ thân và bảo vệ tài sản, đã trở
thành một truyền thống:
Ai
về Bình định mà coi
Con gái Bình định múa roi, đi quyền
(Ca dao)
Tuy vậy, dòng
chảy của Võ học Bình định cũng có những thăng trầm,
qua các giai đoạn sau đây :
THỜI
KỲ MỞ MANG (1470-1558)
Năm Canh Thìn
(1470), Hồng Ðức nguyên niên, vua Chiêm là Trà Toàn đem quân
đánh phá đất Hóa châu, và sai
người sang Tàu cầu viện
nhà Minh. Vua Lê Thánh Tôn tự cầm quân, đem đại binh 20
vạn quân đánh Chiêm thành, phá được
kinh đô là thành Ðồ
Bàn (Vijara) và chiếm đất đến đèo Cù mông. Từ đấy,
miền nầy được sát nhập vào đạo Quảng nam, đặt
tên là
phủ Hoài nhơn gồm ba huyện là Bồng sơn, Phù ly và Tuy
viễn.
Dân các
tỉnh Bắc kỳ, nhất là người Hà đông và các tỉnh miền
bắc Trung phần vào đây lập nghiệp. Họ đến lắp vào
chỗ trống vì có một số người Chiêm thành đã rút về
phía nam. Ðể sinh tồn, họ góp nhóp vốn liếng võ nghệ
của cố hương,
pha trộn với các thế võ của người Chiêm,
của dã thú, của gà đá... rồi sửa đổi, sàng lọc, ứng
chế cho hoàn toàn thích hợp với hoàn cảnh, địa thế
của quê hương mới. Ðầu tiên, hai thế võ được thông
dụng là lối đánh bằng tay chân gọi là quyền và lối đánh
bằng cây gọi là roi.
Họ dùng khúc cây vừa làm đòn gánh
vừa là vũ khí hộ thân. Gánh, có thể chịu sức nặng
gấp ba lần trọng lượng của
mang xách mà vẫn đi được
xa. Ðòn gánh làm bằng gốc tre già, vừa chắc vừa dẻo,
tiện cả hai mặt: gánh thì êm vì đòn nhún
theo nhịp đi;
đánh lại bền vì cây roi không bị gãy hay giập bể. Ðó là
những năm tháng dài, hình thành một nền võ thuật
mới
mẻ, độc đáo, được cả nước quen gọi là võ Bình định.
THỜI
KỲ PHÁT TRIỂN (1558-1771)
Từ cuối năm
Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận hoá,
lập nên xứ Nam Hà, cho đến năm Tân Mão
(1771) Tây Sơn
khởi nghĩa. Trong ngót hai thế kỷ, võ Bình định đã tiến
một bước dài, phát triển đầy đủ các môn binh khí và
đi vào nề nếp. Sự kiện chàng Lía xảy ra trong thời kỳ
này còn lưu lại một bài vè dài 1336 câu, chia làm 6 đoạn,
đã phản ánh
phần nào tình trạng võ nghệ ở Bình định
lúc bấy giờ.
Kết hợp
nội dung bài vè và lời truyền tụng của dân chúng về
cuộc đời của Liá, nhân vật tiếng tăm ấy có tên thật
là
Võ văn Ðoan, nhưng người đời quen gọi thân mật là chú
Lía, quê nội ở huyện Phù ly nay là Phù mỹ, cha mất sớm,
Lía theo mẹ về quê ngoại tại làng Phú lạc, tổng Thời hòa,
huyện Tuy viễn, sau là thôn Phú lạc, xã Bình thành, quận Bình
khê (nay đổi huyện Tây Sơn). Nhà nghèo, mẹ thường đau
yếu, Liá lại còn nhỏ không làm ra tiền để nuôi mẹ.
Nhiều lần Lía đến các nhà phú hộ xin bát cơm thừa hay
xin được họ thuê mướn, nhưng bị từ chối và còn bị
mắng nhiếc thậm tệ. Lía tự nhủ: " Dốc lòng cố giữ lòng thành, Mà trời
chẳng giúp phải đành lòng tham " (vè chú Lía) nhặt sắn khoai để cứu sống
mẹ qua cơn ngặt nghèo. Một hôm, Lía
vào trộm gà vịt của một nhà phú hộ, bị bắt quả tang,
họ trói và đánh đập
tàn nhẫn trước khi giải cho hương
chức để chịu một trận đòn thừa chết thiếu sống khác.
Từ đấy Lía nuôi trong lòng mối hận thù kẻ giàu có và
bọn cường hào ác bá.
Có một hương
sư, thương cho tình cảnh của Lía, bèn mướn chăn trâu. Ngày
ngày Lía thả trâu ăn cỏ trên các sườn đồi.
Nhân có các
võ sư thường đem môn sinh đến mé núi dạy võ, Lía ghé
mắt học lóm và tiếp thu rất nhanh, thấy đâu nhớ đó.
Nhờ có sức mạnh phi thường, thêm năng khiếu về võ
nghệ, lại thông minh sáng tạo, một hôm thấy con cá lóc
nhảy từ dưới thấp lên ruộng cao, Lía học được ngay:
Lía
ta thấy vậy tức cười
Khen con cá lóc vô hồi tài ba
Chớ chi cá lóc dạy ta
Học theo miếng đó, thiệt là mang ơn
và chịu khó
tập luyện thành thạo:
Nhảy
cao như Lía thiệt tài
Nóc nhà nhảy khỏi ai ai cũng nhường
Từ ấy
bọn chăn trâu trong vùng tôn Lía làm "vua", chỉ có
thằng Mướp không chịu phục, muốn đấu võ với Lía, ai
thắng mới chính thức lên ngôi vị:
Mướp
ta cầm một khúc cây
Ðánh nam đỡ bắc múa may loạn trào
Nhưng hắn
không đủ sức chống đỡ ngọn roi khốc liệt
Ðường
côn toàn vẹn trăm bề
Múa lên giông tố tiếng nghe vù vù
nên Lía đã
lỡ tay đập vỡ đầu thằng Mướp chết ngay tại chỗ.
Lía hoảng
sợ, bỏ vào rừng trốn biệt. Bọn lục lâm từng nghe danh
Lía, bèn mời về sơn trại. Sau đó Lía cầm đầu
một đảng
cướp nổi tiếng. Nhưng Lía chỉ đánh cướp những nhà giàu
có mà gian ác hay những nhà của bọn tham quan ô lại.
Nếu
chủ nhà biết điều, nộp tiền của và không chống cự, Lía
chỉ lấy hai phần ba của cải, một phần để lại cho
chủ.
Tài sản cướp được, Lía đem về sơn trại một
nửa, nửa kia phân phát cho dân nghèo trong vùng. Lía cấm đàn
em không được
sách nhiễu dân chúng, cấm chận đường cướp
giật bừa bãi hoặc thu tiền mãi lộ. Ðối với bọn cường
hào có thành tích hà hiếp
dân đen, Lía cho thủ hạ trừng
trị làm gương. Nhờ thế tuy là tướng cướp, Lía vẫn
được dân chúng ủng hộ và che giấu.
Chính quyền địa phương
tuy tốn nhiều thì giờ và công sức mà vẫn không dẹp được
đảng cướp của Lía. Các nhà giàu
trong tỉnh lo sợ, bèn mướn
võ sư canh giữ tài sản và tập luyện võ nghệ cho gia nhân,
tạo cho tỉnh nhà một số đông người
rành võ nghệ và gây
thành phong trào học võ.
Nhưng rồi Lía
cũng chán đời thảo khấu, nhất là biết được mẹ già
qua đời vì buồn phiền về Lía, Lía buồn bã giã từ sơn
trại
ở vùng Phú phong huyện Bình khê, đi về mạn bắc định
tìm đến một nơi xa lạ, sống đời lương thiện.
Thế nhưng,
việc võ nghệ là nghiệp chướng đeo đuổi mãi. Trên đường
ra Quảng ngãi, Lía phải qua Truông Mây dài độ
vài cây
số, hai bên mây rừng bao phủ dày đặc. Truông Mây, còn
gọi là Hóc Sấu, nằm trên hai thôn, đầu bắc là Phú
thuận,
đầu nam là Vĩnh hòa, thuộc Tổng Hạ, huyện Bồng
sơn phủ Hoài nhơn (còn có tên là phủ Qui nhơn và Qui ninh),
nay thuộc
xã An đức, huyện Hoài ân, tỉnh Bình định. Ðịa
thế Truông Mây rất hiểm trở, phía đông và đông nam gặp
nhánh sông Kim sơn chảy từ nam ra bắc, quanh năm nước xanh
lè như màu lá, phía tây núi non trùng điệp và có hòn Núi
Một tách ra, sừng sững như chiếc bình phong.
Nơi đây Lía
bị một bọn cướp chặn đường nên phải ra tay. Hàng
chục tên cướp ngã gục. Chúng hoảng sợ, vội phi báo
với chủ trại là cha Hồ và chú Nhẫn. Lại một phen Lía
phải tỉ thí với hai tên đầu sỏ toán cướp :
Cự
đương một đánh với hai
Tả xung hữu đột bụi bay mù trời
Gặp ngọn
roi thần của Lía, bọn chúng phải bái phục :
Lía
càng sung sức hoành hành
Cha Hồ chú Nhẫn thất kinh đuối rồi
Và rước
về sơn trại rồi nhường chức thủ lãnh cho Lía.
Trong thời
kỳ này đã có những cao thủ thuộc giới nữ lưu :
Mụ
Mân khoảng độ bốn hai
Làu thông võ nghệ ít ai sánh bì
Ðến nỗi
trình độ võ như cha Hồ chú Nhẫn hiệp sức lại vẫn không
thắng nổi :
Phút
thôi Hồ, Nhẫn cả hai
Ðuối tay kéo chạy như bay khác nào
Nhưng khi
gặp đường roi của Lía, mụ Mân không thể áp đảo được :
Lía
ta bình tĩnh đối đang
Mụ Mân tuy giỏi khó toan vẫy vùng
Rồi Lía dùng
độc chiêu để hạ địch thủ:
Cầm
chừng mụ đánh một hồi
Lía gạt đao gãy, đá bồi một chân
Và cũng từ
ngày được tôn làm chủ soái Truông Mây, Lía đã ra lệnh
cho thủ hạ phải triệt để áp dụng tôn chỉ của mình.
Truông Mây không còn là chỗ cướp bóc bừa bãi khách bộ hành
nữa mà trái lại còn bảo vệ người qua đường khỏi bị
ác thú hãm hại. Nhờ vậy đảng cướp được dân chúng có
cảm tình, được nhiều người gia nhập và tiếng đồn
về Lía vang dội khắp vùng:
Lía
ta nổi tiếng anh hào
Sơn hà một góc thiếu nào người hay
Bạc tiền thừa đủ một hai
Chiêu binh mãi mã càng ngày càng đông
Làm cho bốn biển anh hùng
Mến danh đều tới phục tùng chân tay
Mục tiêu đánh
cướp của Lía nhằm vào những :
Kẻ
nào tàn ác lâu nay
Lía sai cướp của đoạt tài chẳng dung
Nhà giàu mấy tỉnh trong vùng
Thảy đều kinh sợ vô cùng lo toan
Nhất nhì những bậc nhà quan
Nghe chàng Lía dọa kinh hoàng như điên
Nhà nào nhiều bạc dư tiền
Mà vô ân đức, Lía đều đoạt thâu
Có binh hùng
tướng mạnh, Lía cho sửa sang sơn trại thành đồn lũy,
luyện tập đàn em thành thạo các môn quyền, roi, đao,
kiếm, siêu, thương, cung, ná...
Lía
nay ở chốn sơn trung
Ngày đêm luyện tập ung dung chén nồng
Từ một đảng
cướp, Lía đã tạo thành một lực lượng vũ trang có tổ
chức, biết tự túc tự cường :
Lâu
la mấy vạn tụ đông
Võ rừng làm rẫy vun trồng bắp khoai
Triều đình
phái một đội quân đông đảo đến đánh dẹp
Truyền
cho mười vạn binh hùng
Dưới cờ đại tướng binh nhung lên đàng
Lía đã đón
quan binh bằng chiến thuật bất ngờ, nhanh như một đường
roi bí hiểm :
Lâu
la kén đủ năm ngàn
Thình lình cướp trại đánh ngang quân trào...
Ðại tướng thoát trận thoát nàn
Về trào chịu tội mất thành binh tan
Lần này, không
thể xem thường Lía như đám giặc cỏ, triều đình phải
cử một tướng lĩnh tài ba :
Ðô
đốc võ nghệ vẹn toàn
Quân binh hùng dũng chiến tràng đua tranh
Lía bèn giục ngựa ra thành
Quyết cùng đô đốc giao tranh so tài
Ðôi bên xáp chiến cả ngày
Bất phân thắng bại khen thay anh hào
Nhưng rồi Lía
không làm sao giữ nổi thành trong thời gia dài :
Tính
toan thành khó giữ nào
Bởi chưng quân ít không sao chống kình
Lía ngầm muốn tính bỏ thành
Ngặt vì binh tướng trào đình phủ vây
Lía đã dùng
ngón võ tuyệt vời để thoát thân:
Cơn
nguy chuyển hết sức thần
Dùng miếng "cá lóc" giậm chân nhảy liền
Quân trào vây kín khắp miền
Lía vọt ra khỏi rất nên kỳ tài
Trên đây là
những câu trích trong vè Chú Lía cho thấy võ học Bình định
ở thời kỳ này đã thịnh hành và đóng vai trò then chốt
trong chiến đấu.
Chàng Lía là
một Robin Hood của Bình định. Triều đình đã dẹp yên đảng
cướp ở Truông Mây, nhưng tình cảm của dân chúng đối
với chú Lía mãi mãi đi vào văn học :
Chiều
chiều én liệng Truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành
THỜI
KỲ CỰC THỊNH (1771-1802)
Từ năm Tân
Mão (1771), Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa ở Gò Tô đất
Tây sơn đến năm Nhâm Tuất (1802), vua Quang Toản bị bất
ở huyện Phượng nhãn tỉnh Bắc ninh, nền võ học Bình định
mở ra một kỷ nguyên mới. Ðó là võ Tây Sơn.
Tam kiệt Tây
Sơn gồm Nguyễn Nhạc (?-1793) anh cả, Nguyễn Huệ ( 1753-1792 )
anh thứ, và Nguyễn Lữ ( ?-1788 ) em trai út, người làng Kiên
Mỹ đất Tây sơn, sau này là thôn Kiên Mỹ, xã Bình thành,
huyện Bình Khê ( nay đổi là huyện Tây Sơn).
Họ Nguyễn
Tây Sơn nguyên là họ Hồ, dòng dõi Hồ Qúy Ly. Ông tổ
bốn đời là Hồ Phi Khanh ở huyện Hưng nguyên tỉnh Nghệ
an. Năm Ất Tỵ ( 1655 ), Trịnh Nguyễn giao tranh lần thứ năm,
quân Nguyễn tấn công Nghệ an. Hồ Phi Khanh cùng một số dân
chúng bị quân Nguyễn bắt đem vào phủ Qui Ninh huyện Tuy Viễn để khai hoang.
Ông đến ở làng Bằng châu ( nay
thuộc xã Ðập Ðá huyện An nhơn ) được họ Ðinh đỡ đầu,
gây dựng. Ðời con là Hồ Lang, dời về làng Phú lạc xã Bình
thành. Ðời cháu là Hồ Phi Phúc, dời qua làng kế cận là
Kiên Mỹ. Nơi đây, ba anh em Tây Sơn ra đời, trước theo
họ cha, sau đổi ra họ mẹ là họ Nguyễn.
Lúc nhỏ,
anh em Tây Sơn được học chữ Hán với thầy giáo Hiến,
một bậc tài danh bất mãn vì chế độ thối nát,
nạn Trương
Phúc Loan chuyên quyền, tham tàn.
Sau đó, anh
em Tây sơn học võ với võ sư Ðinh Văn [Nhưng]. Nhưng thường
gọi là ông Chảng (hoặc Chẳng ? ), người làng
Bằng châu.
Thầy võ là người bộc trực, gan dạ và ngang ngạnh nhất
vùng, chẳng hề kiêng nể bọn cầm quyền. Ông tự phong
" Chảng chảng ngang thiên ". Câu ví von của người
đương thời " Ngang quá ông Chảng " nay đã trở thành
tục ngữ. Ba anh em được thầy yêu qúy, dạy cho nhiều
thế võ bí truyền. Thấy được sự lợi hại của võ Bình
định, tam kiệt Tây Sơn đã đem võ thuật vào chiến thuật
trong cuộc khởi nghĩa và phát huy võ học Bình định đến
mức cực thịnh.
Trong binh đội
Tây Sơn, mỗi chiến sĩ là một võ sĩ. Sự huấn luyện quân
đội, cơ bản là tập võ nghệ. Người lính phải biết
sử dụng tất cả, hoặc một số các binh khí truyền
thống sau đây 96:
1.- Quyền: lối đánh võ bằng tay chân, còn gọi là thảo bộ. Quyền
gồm nhiều thảo bộ, chẳng hạn như : thảo bộ Phượng Hoàng,
Tứ Hải, Thiền Sư, Ngọc Trản, Thần Ðồng, Lão Mai, Ðộc
Thọ...Hễ quyền giỏi thì roi cũng giỏi. Vì vậy quyền là
môn võ tối cần. Quân Tây Sơn đã dùng chiến pháp sở trường
này trong khi xung phong giáp lá cà, thanh toán chiến trường.
2.- Roi : lối
đánh võ bằng gậy, còn gọi là côn. Roi không nên lớn quá
hoặc nhỏ quá, phải vừa cỡ tay nắm người sử dụng thì
đường roi mới mạnh và nhanh. Có hai loại : roi trường và
roi đoản. Roi trường là roi trận, dài khoảng 2,50 mét, đầu
lớn là đốc roi, đầu nhỏ là ngọn roi. Người sử dụng
roi trường ngồi trên ngựa và chỉ đánh một đầu.
Roi đoản
là roi đấu, dài " tề mi " tức là ngang lông mày người
sử dụng ( chừng 1,60 mét ). Roi đấu cầm ở giữa thân roi nên
có thể đánh cả hai đầu. Chẳng hạn đầu roi bổ xuống
như trời giáng khiến đối thủ lo chống đỡ , nhưng đó
chỉ là cú đánh hư. Trong lúc ấy, nhanh như chớp đốc roi
thúc mạnh vào hạ thế đối thủ, đó mới là cú đánh
thực. Ngày xưa, các võ sĩ thường vắt vai một khăn lông
to và dài, gặp khi bất trắc, có thể dùng khăn thế roi,
gọi là roi nhuyễn tiên, không phải là để đánh mà để
" vung roi " che mắt đối thủ rồi xông vào hất tung
binh khí.
3.- Song sĩ :
hai cây gỗ cứng kẹp dọc cẳng tay, ló ra ở hai đầu. Khi
đấm hay thúc cùi chỏ thì đầu nào của song sĩ cũng có
thể ấn sâu vào cơ thể của đối thủ.
4.- Ðao : để
chém và đâm. Nếu đao có lưỡi bè ra rất lớn thì gọi là
đại đao.
5.- Kiếm :
gồm độc kiếm và song kiếm, lưỡi dài nhưng không quá 1 mét.
6.- Siêu :
giống như đao, nhưng cán dài. Thế võ kết hợp giữa kiếm
và roi.
7.- Thương,
giáo, mác, lao đều có cán dài, dùng để đâm, đánh và phóng.
8.- Xà mâu,
đinh ba, bừa cào đều có cán dài nhưng đầu có nhiều nhánh,
đường võ chậm chạp, ít thông dụng.
9.- Lăng, khiên :
tròn dẹp, có tay nắm ở tâm điểm; dùng để che đỡ khi lâm
trận.
10.- Song chùy:
hình cầu bầu dục, xẻ răng cưa như cạnh khế, có cán
nắm, dùng để đánh, cũng ít sử dụng.
11.- Dây xích
bằng sắt dùng để quất, lợi thế như một cây roi.
12.- Cung, ná,
nỏ dùng để bắn tên khi đối thủ còn ở xa.
Một đặc
điểm của võ Tây Sơn là mỗi thế võ đều có bài thiệu
đi kèm, tức là phần lý thuyết được diễn thành thơ có
vần, có điệu cho dễ đọc, dễ nhớ. Người học võ,
phải thuộc lòng bài thiệu, đọc đến đâu múa đến đó,
lý thuyết ăn khớp với thực hành. Lối học võ này rất
tiện cho việc luyện tập nhiều người cùng một lúc, được
áp dụng trong trường huấn luyện quân đội của Tây Sơn.
Thời ấy còn
sáng chế ra điệu trống trận Tây Sơn. Người đánh, cùng
một lúc sử dụng nhiều trống, tối đa 12 cái, và phải dùng
thế võ côn quyền mới đánh được. Ðánh bằng dùi cả
hai đầu, gọi là roi trống, vừa đánh cả hai bàn tay, cổ
tay, cùi chỏ, vai... làm cho tiếng trống phát ra những âm
thanh khác nhau, nghe rất hùng tráng. Lúc ra trận, dùng hai
trống lớn, đánh theo võ nhạc trận, âm thanh vang xa, dồn
dập, khích động.
Chiến
thuật của Tây Sơn là áp đảo đối phương từ tầm xa đến
tầm gần. Xa thì có đại bác đặt trên mình voi. Khi cách
mục tiêu chừng 100 mét thì dùng súng trường. Gần thì đến
lượt cung nỏ, rồi hỏa hổ. Cuối cùng là xung phong cận
chiến, dùng các thế võ để giải quyết chiến trường
theo nguyên tắc " nhất nhân địch quần nhân ".
Như vậy, đội
quân Tây Sơn không cần đông mà cốt ở tinh và dũng cảm.
Binh đội gọn nhẹ, di chuyển nhanh chóng, thích hợp với
lối tác chiến thần tốc. Ðánh nhanh đánh mạnh, hư thực
không rõ, bất ngờ thọc sâu vào kẽ hở của địch quân.
Chiếm mục tiêu thì dùng tượng binh làm lá chắn, vừa là
pháo đài di động cho bộ binh tiến lên. Ðó là kỹ thuật
tác chiến của Tây Sơn, ảnh hưởng bởi bản chất con nhà
võ.
Tương
truyền các tướng Tây Sơn đều là những tay võ xuất chúng.
Nguyễn Huệ sở trường về roi. Nguyễn Lữ xuất sắc về
côn quyền, đã sáng chế ra Hùng Kê quyền, lấy từ các
thế võ của gà đá. Võ văn Dũng rất giỏi về đao, người
đời có câu truyền tụng
Phá
sơn trung tặc, dị
Thắng Văn Dũng đao, nan
(Phá được giặc trong
núi thì dễ,
thắng được ngọn đao của Văn Dũng thì khó )
Ðặng văn
Long (có sách chép là Mưu) lại quán thông cả cương quyền
(ngạnh công) lẫn miên quyền (nhuyễn công) với đôi tay
mạnh và cứng như sắt nên người đời thường gọi là Ðặng
thiết tí. Bùi thị Xuân thì không ai bì kịp về môn kiếm.
Tóm lại, võ
Tây sơn là võ truyền thống của Bình định đã được
tập hợp và tinh luyện để đưa vào quốc phòng. Võ trở
thành chiến lược độc đáo của Tây Sơn, thời huy hoàng
nhất của võ học Bình định.
THỜI KỲ ẨN MÌNH (1802-1867)
Năm Nhâm
Tuất (1802), Nguyễn Ánh dẹp nhà Tây Sơn và lên ngôi vua, xưng
đế hiệu là Gia Long. Không những nhà vua trả thù dã man đối
với Tây Sơn mà còn có cả một kế sách lâu dài, nhằm
tận diệt tất cả những gì có liên quan đến Tây Sơn.
Vì
vậy võ Tây Sơn không còn được lưu hành nữa. Các nhà võ
rút lui vào bóng tối, chỉ âm thầm truyền dạy cho con cháu.
Các bài thiệu cũng phải dấu trong trí nhớ và chỉ truyền
miệng trong phạm vi gia đình. Ðiệu trống Tây Sơn im bặt
trong những ngày lễ hội đông người. Thời kỳ này kéo dài
suốt các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và đầu đời
Tự Ðức. Vì thế nền võ học Tây Sơn đã bị thời gian làm
mai một rất nhiều.
THỜI KỲ TRUNG HƯNG (1867-1924)
Từ khi vua
Tự Ðức lên ngôi (1847), quân Pháp luôn luôn tìm cách gây
hấn với nước ta để có cớ xâm chiếm. Năm 1858, liên quân
Pháp và Tây ban nha đánh chiếm bán đảo Sơn trà, Ðà
nẵng. Năm 1859, thành Gia định thất thủ. Năm 1861, mất Ðịnh
tường (Mỹ tho), đảo Côn lôn và Biên hòa. Năm 1867, Pháp
chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam kỳ là Vĩnh long, An giang, Hà
tiên.
Trước tình
thế khẩn trương, cần tăng cường quân đội để bảo
vệ những phần đất còn lại. Ðối với Tự Ðức, đề
phòng Tây Sơn không còn là việc thiết thực nhưng họa xâm
lăng của Pháp thì sờ sờ trước mắt.
Vì thế năm 1867, nhà
vua cho thành lập trung tâm tuyển chọn võ quan ngay trên
miền đất võ. Ðó là trường thi Hương võ Bình định
tại thôn An thành, tổng Thời đôn, huyện Tuy viễn phủ An
nhơn, nay là thôn An thành xã Nhơn lộc huyện An nhơn và
chỉ cách trường thi Hương Văn (tại Hòa nghi, xã Nhơn hòa)
vài cây số xuyên qua các thôn Trường cửu, Quang châu dọc
theo hữu ngạn nam phái sông Côn.
Vốn sẵn
truyền thống yêu thích võ nghệ, nay được nhà vua mở trường
thi, tuyển chọn nhân tài, các mạch võ ẩn tàng hơn sáu mươi
lăm năm qua, giờ đây bùng lên trổ hoa kết trái. Các lò võ
ở Bình định mọc lên như nấm. Những đêm trăng, trong sân
nhà hay trên dãy gò hoang vắng, tốp năm tốp ba, võ sinh
miệt mài tập luyện.
Rồi kinh đô
thất thủ (1885), vua Hàm Nghi bôn đào và xuống chiếu Cần
vương. Võ Bình định đã góp phần vào việc chống Pháp. Lãnh
tụ phong trào Cần vương ở Bình định, anh hùng Mai Xuân Thưởng,
là một người văn võ song toàn. Trong bài Ðiếu Mai Nguyên Súy
(Mai xuân Thưởng), Nguyễn Bá Huân, một danh sĩ đương
thời, đã hết lòng khâm phục:
Ðan
tâm chỉ vị cứu lương dân
Hoành sóc ngâm thi hữu kỹ nhân
Nhất phó hung khâm hoành vũ trụ
Tam niên cầm kiếm định phong trần...
Tống Phước
Hổ dịch:
Lòng
son chỉ muốn cứu lương dân
Vung giáo, ngâm thi mấy kẻ bằng
Một tấm lòng trung trùm vũ trụ
Ba năm đàn kiếm sạch phong trần
Dưới cờ
khởi nghĩa của Mai nguyên soái, ở Bình khê có một dòng võ
mà cả ba thế hệ gồm hàng trăm võ sĩ, võ sinh đã theo
thầy đứng trong hàng ngũ nghĩa quân. Ðó là lò võ Lê Thượng
Nghĩa, sư tổ của Hồ Tá Quốc. Hồ Tá Quốc đã ca tụng
tay kiếm lợi hại của thầy trong việc cứu nước, qua bài
tặng Lê công Thượng Nghĩa:
Lão
sư thân thủ nhược du long
Lẫm liệt tu mi khí lực hùng
Tích nhật Cần vương đồng tá quốc
Tây trù trảm tận hiển hùng phong
Ðào Văn
dịch:
Nhớ
thầy dáng tựa rồng bay
Ðường gươm nhát kiếm râu mày xứng danh
Theo vua vì nước quên mình
Dẹp tan lũ giặc đinh ninh lời nguyền
Trong bài Trường
Úc sơn quan đại chiến hậu, hựu đại thắng ư Cẩm Văn
thôn hữu cảm ( cảm xúc sau khi đánh lớn trên ải Trường
úc, lại thắng lớn ở thôn Cẩm văn ), sư tổ Lê Thượng
Nghĩa cũng đã nói rõ, thắng lớn là nhờ áp dụng võ
thuật vào chiến thuật :
Binh
nhung hào kiệt vũ Ngô câu
Xung đột trùng vây trảm tặc đầu
Trường úc, Cẩm văn tề báo tiệp
Nghĩa binh thanh giá chấn toàn châu
Việt Thao
dịch :
Diệt
thù, hào kiệt múa gươm thiêng
Xông phá vòng vây chém giặc liền
Trường úc, Cẩm văn đều thắng lớn
Nghĩa quân lừng lẫy khắp trong miền
Tướng Ðặng Ðề, cũng người quận Bình khê (tức huyện
Tây sơn), một tay võ nghệ nổi tiếng, đã chỉ huy mặt
trận Thủ thiện, cho quân xung phong cận chiến, có trống
trận yểm trợ tinh thần y như đạo quân Tây Sơn ngày trước,
ông viết :
Thủ
thiện thôn trung bề cổ động
Nghĩa binh phấn dũng vũ đao thương...
Việt Thao
dịch :
Thủ
thiện, trong thôn trống trận rền
Nghĩa quân dũng cảm giáo vung lên
Năm 1908, làng võ Bình định lại một lần nữa góp phần chống Pháp trong phong
trào Kháng thuế tại tỉnh nhà. Các võ sĩ ở An vinh và An thái tham gia rất
đông. Họ lãnh trách nhiệm trừng trị bọn tay sai của Pháp và những tên thổ
hào dựa vào giặc để nhiễu hại dân lành.
Căn cứ vào các châu bản triều Duy
Tân trong quyển Phong Trào Kháng Thuế Miền Trung năm 1908 của Nguyễn Thế Anh
(xuất bản tại Sài gòn năm 1973) thì ở huyện Bình khê có Hà Khuê, Hồ Cường,
Lê Lý, Lê Hữu, Lê Thức, Võ Nghiệp... đã lùng kiếm các viên chức đấc lực của
chính phủ Bảo hộ để trừng trị, tiêu biểu có tên Vinh và Giao bị nịch sát. Ở
vùng An vinh (Bình Khê) và An thái (huyện Tuy viễn) có Nguyễn văn Khải lý
trưởng An vinh, đã chỉ huy toán bắt cóc bọn tay sai cho giặc, tiêu biểu có
tên Uẩn đền tội, xác thả trôi sông.
Ở huyện Phù cát có Nguyễn Hoành
đã tổ chức ám sát hai tên gian ác là Bá và Tường do phủ phái tới. Ở huyện
Bồng sơn có Ðỗ Dương, Nguyễn Ðiềm, Phạm Quế, Phan
Thuần đem thủ hạ khoảng 50 người cầm đao côn đến
huyện đường kháng cự với lực lượng đàn áp. Ngoài ra,
toán võ sĩ còn thi hành bản án tử hình đối với thường
dân đã tham tiền làm do thám hay chỉ điểm cho giặc, như
trường hợp nịch sát tên thợ Cẩn để làm gương.
Khoảng năm
1920, cả hai tỉnh Bình định và Phú yên mất ăn mất ngủ
vì nạn cướp Dư Ðành. Võ sĩ các phủ, huyện Bình khê, An
nhơn, Tuy phước, Phù cát được quan tỉnh điều động vào
việc bắt cướp. Dư Ðành người làng Kiên ngãi, xã Bình
thành huyện Bình khê, giỏi võ nghệ và có sức mạnh phi thường.
Hắn có thể kẹp nách một con bò nghé, nhẹ nhàng như
bồng một đứa bé.
Người đương thời ví Dư Ðành
"sức đương Hạng Võ, mạnh kình Trương Phi". Dư
Ðành cầm đầu một toán cướp 11 tên. Hựu (quân sư),
Phỉ, Cao, Ðen... toàn là những tên cướp tên tuổi. Chỉ có
tay roi Hồ Ngạnh ở Thuận truyền là Dư Ðành né tránh, còn
Bảy Lụt cũng là một tay quyền nổi tiếng ở An vinh, bị
Dư Ðành và đồng bọn phục kích đánh bất tỉnh để
cảnh cáo làng võ đang tìm bắt chúng:
Dư
Ðành sức mạnh quá trâu
Vùng lên đánh ngã cả xâu triều đình
(Ca dao)
Triều đình
khiển trách quan tỉnh, tỉnh nạt xuống huyện. Quan huyện
đổ cáu trút lên đầu làng xã. Khổ cho đám dân đinh
phải canh phòng nghiêm nhặt suốt ngày đêm, lùng sục khắp
hang cùng ngõ hẻm mà vẫn không tìm ra tung tích bọn cướp.
Tình cờ, Dư Ðành bị bắt ở vùng Dương an, huyện Tuy phước,
lúc đang ngủ say dưới lòng tảng đá hàm ếch, thuộc núi
Phước an. Người ta phải lập thế dùng ba khúc danh mộc
"Kiềng kiềng ba khúc cán ngay yết hầu" ( vè Dư Ðành )
và có súng bắn thị uy, Dư Ðành mới chịu bó tay.
Xét cho cùng,
thời kỳ trung hưng đã trải dài trên nửa thế kỷ, nhưng
làng võ Bình định không thể có lại cảnh huy hoàng rực
rỡ như thời Tây Sơn. Tuy vậy võ học Bình định thời
kỳ này cũng đã phục hưng được ý hướng tốt đẹp là
dạy võ, học võ để ứng thí, cứu nước và giúp đời.
THỜI
KỲ NGOẠI NHẬP (1924-1945)
Từ xưa Bình
định đã có câu truyền tụng: "Roi Thuận truyền,
quyền An vinh", và "Trai An thái, gái An vinh" là
những địa danh thuộc tỉnh, đã phát tích những dòng võ
nổi tiếng và nối nghiệp cho đến bây giờ. Thôn Thuận
truyền thuộc xã Bình thuận, quận Bình khê. Thôn An vinh
thuộc xã Bình an, cùng huyện. Còn An thái xưa là một thị
tứ, nằm trong thôn Mỹ thạnh, xã Nhơn phúc, huyện An nhơn.
"Roi
Thuận truyền" trước xa nữa không rõ ông tổ là ai, nhưng
đến đời ông Ba Ðề thì truyền cho Hồ Ngạnh. Hồ Nhu là
tên thật của Hồ Ngạnh, sinh năm 1891, mất năm 1976, thọ
85 tuổi. Ông nguyên quán thôn Háo ngãi, xã Bình an, huyện Bình
khê, trú quán ở Thuận truyền, xã Bình thuận cùng huyện.
Cha là ông Ðốc Năm, một võ quan của triều Nguyễn. Mẹ cũng
là con nhà võ. Ngay từ lúc bé, ông đã được cha mẹ dạy
võ gia truyền. Lớn lên, ông học roi của cao sư Ba Ðề,
học nội còng của ông Ðội Sẻ, tiếp đến học roi của
ông Hồ Khiêm.
Ðường roi kết hợp tinh hoa của nhiều
thầy, lại thêm nội công nên cứng cáp và sâu hiểm vô cùng.
Từ roi thế, roi đấu, roi chiến đến roi trận, ông đều
tinh thông và độc đáo. Khoảng năm 1932, tiếng tăm ông đã
vang dội khắp bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú. Nghe danh, học
trò đến thọ giáo rất đông. Con trai chết sớm, ông
truyền nghề cho cháu nội, nay là võ sĩ Hồ Sừng. Học trò
lớp lớn có ông Mười Mỹ (sinh năm 1912) ở Trường úc xã
Phước nghĩa huyện Tuy phước được riêng dạy ngón độc
chiêu bí truyền. Học trò lớp sau có Ðinh văn Tuấn ở Qui
nhơn, đang độ sung sức, nối nghiệp làm vẻ vang cho lò võ
Thuận truyền.
"Quyền
An vinh" có từ lâu, nhưng cũng chỉ biết từ đời ông
Hương mục Ngạc. Lò võ này còn có ông Năm Nghĩa, cũng là
bạn đồng môn đồng khóa, nhưng sau lại chuyên về roi. Hương
mục Ngạc học quyền Bình định rồi học thêm quyền Tàu
của ông Khách Bút. Sở dĩ ông nổi tiếng là nhờ tổng
hợp được nhiều nguồn võ khác nhau, tạo nên tay quyền
xuất sắc nhất trong làng võ Bình định đương thời.
Ông
có ba người con là Bảy Lụt, Tám Cảng (nữ) và Chín Giác
đều tinh thông võ nghệ. Ông dạy nhiều học trò, có người
nổi tiếng như Hai Tửu. Bảy Lụt chẳng những xuất sắc
về võ thuật mà còn gan dạ và có sức mạnh đáng kể,
với tay không có thể vật ngã một con trâu đực đang sung
sức. Bảy Lụt truyền nghề cho Phan Thọ. Sau này Phan Thọ còn
học thêm võ trận Tây Sơn với ông Sáu Hà nên đã tiếp
thu được cả tinh hoa quyền An vinh từ mạch võ Hương mục
Ngạc lẫn võ chiến của Tây Sơn. Hiện nay lò võ Phan Thọ
ở thôn Thủ thiện huyện Bình khê vẫn đông học trò dù
ông nay đã vào tuổi thất tuần.
An thái cũng có những dòng võ nổi tiếng mà câu ca dao nói
đến Hội Ðổ Giàn tại chùa Bà ở vùng này đã đề
cập:
Tiếng
đồn An thái, Bình khê
Nhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo
Nhưng đến năm 1924, một biến cố xảy đến cho làng võ Bình
định nói chung và dòng võ truyền thống của làng An thái nói
riêng. Ðó là sự xuất hiện của môn phái quyền Tàu. Người
sáng lập ra môn phái này là ông Tàu Sáu, tên thật là
Diệp Trường Phát, sinh năm 1896 tại An thái. Tuy là người
Tàu nhưng dòng dõi ba đời đều ở An thái, bà nội và mẹ
ông đều là người Việt. Ở quê mẹ, gia đình và bản thân
Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ nên khi được
13 tuổi, ông được gửi về Tàu để học võ từ những
cao sư Bắc phái Thiếu lâm.
Sau 15 năm ròng rã tầm sư học
võ, ông Tàu Sáu lúc bấy giờ đã 28 tuổi, trở lại An thái,
mở trường dạy quyền Tàu, sở trường hai môn Hổ quyền
và Long quyền. Ông dạy võ gần 50 năm, môn đệ rất đông,
không bao lâu phái quyền Tàu Thiếu lâm của ông đã rải
khắp miền đất võ và riêng ở An thái, võ quyền truyền
thống đã bị quyền Tàu lấn át làm lu mờ. Có người vì
thế sửa lại câu truyền tụng từ xưa ra "roi Thuận
truyền, quyền An thái".
Dân Bình định đến với lò võ Tàu Sáu, có người vì
xuất thân chuyên về quyền Tàu như Ðào Hoành, Hải Sơn; có
người chỉ để bổ túc cho tay roi võ truyền thống được
cứng cáp thêm như Mười Mỹ.
Trong thời kỳ này, ngoài võ Thiếu lâm của Tàu Sáu còn có
võ Thái cực đạo, võ quyền Anh cũng xâm nhập làng võ Bình
định và được người Pháp nâng đỡ để giảm bớt ảnh
hưởng của võ truyền thống. Chính phủ Bảo hộ thường
tổ chức những cuộc đấu võ đài đến chết mới thôi.
Cảnh tượng ghê rợn, trên đài có một cỗ quan tài để
sẵn. Các lò võ cố luyện cho gà nhà những cú đánh tàn
bạo, độc hiểm để thủ thắng càng nhanh càng tốt, vì
thế gây nên sự thù hằn, hiềm khích giữa các lò võ.
Ðó
chính là mục đích "chia để trị" của thực dân.
Tuy nhiên vẫn có những nhà võ ý thức được điều đó.
Họ khước từ những cuộc thách thức tranh tài, chỉ đóng
cửa truyền võ để khỏi mất dòng và để tự vệ.
THỜI KỲ TRẦM LẮNG (1945 đến
nay)
Cuộc chiến
kéo dài 30 năm với vũ khí tối tân; côn, quyền, gươm, giáo
không còn tính cách quyết định cho cuộc chiến nữa. Số
người học võ để đi thi đã chấm dứt từ lâu. Học võ
để phòng cướp hay làm mưa làm gió như Dư Ðành cũng không
còn. Hội Ðổ giàn, tục Tranh Heo đã mai một từ khi khói
lửa lan tràn. Số người học võ tuy dần dần giảm bớt nhưng
tinh thần thượng võ đã trở lại với ý nghĩa chân chính.
Trong ý nghĩa tìm về cội nguồn, tưởng nhớ đến người
sáng lập võ Tây Sơn, năm 1960, nhân dân toàn quận Bình khê
đã chung sức lập xong đền thờ Tam Kiệt Tây Sơn tại
nền đình cũ đã bị phá hủy thời Việt minh. Nguyên khuôn
viên ấy là vườn nhà của gia đình ba anh em Tây Sơn. Vua Thái
Ðức ( Nguyễn Nhạc ) lên ngôi, cho xây dựng thành một nhà
từ đường khang trang. Khi Gia Long diệt Tây Sơn, ra lệnh san
phẳng ngôi nhà. Sau dân làng lập ngôi đình làng Kiên Mỹ
tại đó và bí mật thờ Tam Kiệt Tây Sơn.
Ðền thờ Tây Sơn có ba gian. Gian giữa thờ Quang Trung Hoàng
đế. Hai gian bên thờ vua Thái Ðức và Ðông Ðịnh vương
Nguyễ Lữ. Trước sân đền đặt tượng bán thân của vua
Quang Trung và dựng bia ca tụng ngài.
Cũng từ năm 1960, hằng năm cứ vào ngày mùng 5 Tết Nguyên
đán, tỉnh Bình định lại tổ chức trọng thể lễ Ðống
đa. Trong ngày lễ hội có biểu diễn võ trận và trống
trận Tây Sơn. Người xem hội từ các nơi đổ về đông
nghẹt đường.
Năm 1972, hội Võ thuật Bình định được thành lập, thành
phần sáng lập viên gồm có : các võ sư Hà Trọng Sơn,
Huỳnh Liễu, Lý Xuân Tạo, Nguyễn Nghè, Nguyễn Thông,
Nguyễn văn Thành, Thanh Hoàng, Thành Nở, Xuân Sơn Quảng và
ba huấn luyện viên là Lý Thành Nhân, Nguyễn Thành Công, Xuân
Trường Tịnh. Thanh Hoàng có tên thật là Nguyễn Bính, sinh
năm 1935, người thôn An phú xã Phước lộc, huyện Tuy phước
được bầu làm Tổng thư ký.
Tôn chỉ của hội là bảo
tồn và phát triển võ Bình định. Hoan nghênh các phái võ
khác hội nhập vào làng võ Bình định làm phong phú thêm
cho nền võ học tỉnh nhà; nhưng cương quyết ngăn chặn các
môn võ ngoại lai đang muốn đồng hóa võ truyền thống.
Một điều quan trọng là từ năm 1972 hội võ thuật Bình định
được thành lập với đầy đủ các môn võ của Bình định.
Trước đó chỉ có Phân cuộc Quyền thuật Bình định được
thành lập mà thôi và trực thuộc vào Tổng cuộc Quyền
thuật Sài gòn.
Lại nữa, võ Bình định cũng được phổ biến rộng rãi
qua các võ đường ở Sài gòn và các tỉnh, như võ đường
Sa Long Cương ở Sài gòn do sư trưởng Trương Thanh Ðăng người
Bình định tổ chức, dạy cả võ Bình định lẫn võ
Thiếu lâm.
Thời kỳ này có những nhà sư nổi tiếng về võ Bình định
như Thượng Tọa Bửu Thắng, tuổi ngoài 80, trụ trì chùa
Quang Hoa huyện Tuy phước, là tay roi chiến thượng thặng; sư
Hạnh Hòa, khoảng ngũ tuần, trụ trì chùa Long phước,
huyện Tuy phước, một tay võ danh tiếng; sư chú Vạn Thanh,
30 tuổi, cũng ở chùa Long phước, tay roi tay đao đang thời
kỳ sung sức.
Vào đầu thập niên 1970, một ngôi sao lóe sáng trên vòm
trời võ học Bình định : nữ võ sĩ Thanh Tùng của miền sông
Côn. Chưa ai thấy cô thắng trên võ đài hay từng tranh tài
cao thấp với ai, người ta chỉ thấy Thanh Tùng ở điện
thờ Quang Trung dịp lễ Ðống Ða biểu diễn các bài quyền
như Lão Mai Ðộc Thọ hay bài roi như Tấn Nhất Ô Du là đã
đủ khiếp.
Xét cho cùng, điều ấy là lẽ dĩ nhiên. Thanh Tùng là con nhà
võ, đời đời nối nghiệp và thừa hưởng các ngón bí
truyền của một dòng võ cao thủ. Ông nội của Thanh Tùng là
một tay roi quỉ khiếp thần kinh, người đồng thời và
xứng tài với Hồ Ngạnh. Thân sinh cô vẫn nối nghiệp nhà,
giữ vai trò đứng đầu hàng võ tại địa phương. Rồi đến
Thanh Tùng, tuy là gái, cô vẫn tiếp nối thừa hưởng tinh
hoa của con nhà võ.
Học võ thì phải học luôn cả thuốc võ để tự chữa
trị những chấn thương do đánh võ gây nên. Tuy nhiên trong
trường hợp thương tích quá nặng thì phải tìm đến các
thầy thuốc võ chuyên môn. Họ cũng trong đội ngũ làng võ
Bình định, vì phải xuất thân từ những lò võ danh tiếng
mới học được các bài thuốc bí truyền.
Một số danh sư
về thuốc võ như : võ sư Hồ Ngạnh, Hoà thượng Huyền Án
trụ trì chùa Bích Liên huyện An nhơn, Lê văn Chương ở
thị trấn Bình định, Minh Tân Phạm Hà Hải ở Qui nhơn...
tiếc rằng Hồ Ngạnh và sư Bích Liên đã qua đời, nhưng
trong làng thuốc võ Bình định còn biết bao danh sư khác
nối tiếp được chân truyền.
Ngày nay, lớp người trên dưới 60 tuổi đang giữ vai trò nòng cốt cho làng võ
Bình định, tuy không nhiều nhưng rải khắp nơi trong tỉnh. Ở Qui nhơn có Ðinh văn Tuấn, tác
giả cuốn Võ thuật Cổ truyền Bình Định; Kim Ðình gốc
người Hoài nhơn; Nguyễn Lê Thanh.
Ở Bình khê có Hồ Sừng (cháu
nội Hồ Ngạnh), Phạm Thi, Phi Long. Huyện Tuy phước có
Thanh Hoàng (cựu Tổng thư ký hội Võ thuật Bình định) ở
Cầu Gành, Hồng Khanh, Minh Tinh (con võ sư Xã Hào) ở Trường
úc, Ðào văn Thanh ở Phước thuận và Trần Can ở ngả ba
Diêu trì, cả hai đều thuộc mạch võ của Hà Trọng Sơn;
nhà chùa thì có các sư Hạnh Hòa, Vạn Thanh ở chùa Long phước,
huyện An nhơn có Lý Thành Nhân (con võ sư Lý Xuân Tạo) ở
Ðập Ðá, Vũ Lê Cang. Huyện Phù cát có võ sư Trần Diễn.
Và các huyện phía bắc là Phù mỹ có Kim Hòa, ở Hoài nhơn
có Nguyễn văn Chức, Nguyễn Thành Tín...
Mạch võ Bình định như một dòng sông, lúc uốn khúc, lúc
bằng phẳng, khi vơi khi đầy, nhưng với khí thế của đất
trời " ba dòng sông chảy, ba dãy non cao, biển đông sóng
vỗ dạt dào, tháp kia làm bút ghi tiếng anh hào vào mây
xanh ", dòng chảy ấy không bao giờ dứt.
Ðào Ðức Chương
Giai phẩm Xuân TÂY SƠN Mậu Dần 1998
Nguồn Gốc
| Sáng Lập
|
Chương Trình HL
| HLV
| Sinh Hoạt
Liên Lạc |
Bài
Viết | Nơi Khác |
Trang Chính
| |
Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam
Bình Định SA LONG
CƯƠNG
tại Austin, TX. HOA KỲ ( 1998 )
|
 |