Nguồn GốcSáng Lập | Chương Tŕnh HL | HLV |  Sinh Hoạt    
                                                      
     Liên Lạc | Bài ViếtNơi Khác | Trang Chính                  
     
 
 

       QUA DÂN CA SẤM KƯ         

                                                                      THÁI VĂN KIỂM

       Danh từ Tây Sơn phát xuất từ những ngọn núi cao phía tây tỉnh B́nh định, giáp với tỉnh Pleiku (Gia lai) gồm phần lớn bộ lạc Jarai, phần ít người Chàm mà ngôn ngữ có liên hệ với ngôn ngữ Mường-Việt. Sở dĩ có danh từ Tây sơn là v́ trước kia, cũng vào thời đại nhiễu nhương ấy, tức là thời kỳ Lê mạt Nguyễn sơ, đă xuất hiện danh từ Đông sơn (ngọn núi miền đông), vốn là một đảng hiệp sĩ do Đỗ Thành Nhân (?-1781) sáng lập ở vùng Ba giồng (Định tường), pḥ chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần, rồi pḥ chúa Nguyễn Ánh, thắng trận Bến nghé 1778, hùng cứ Thập bát Phù viên, tức là 18 Têm Blàu :
folium illud concinnare adedendo.

Ngày xưa c̣n truyền lại một lời than van của cô gái nhà quê :

Mệ ơi! Ông Chánh đ̣i hầu
Ông Phó đ̣i vợ, nhận cao trầu nơi mô

Trầu vốn là món hàng đầu tay của anh em Nguyễn Nhạc xuất thân buôn trầu nguồn, lên xứ mọi mua trầu về bán lại cho dân miền xuôi. Sau đó Nhạc được cân nhắc lên làm biện lại, một chức tuần cai ở phủ huyện, chuyên coi về việc tuần pḥng và thu thuế. V́ đă làm tuần biện, nên người đuơng thời gọi là biện Nhạc. Theo Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm viết trong Quốc văn Đời Tây Sơn th́ lúc khởi nghĩa năm Tân Măo 1771 ở thượng đạo ấp Tây sơn, Nguyễn Nhạc có một tên phó tướng tên là Tứ Linh, quân lính của tướng này được gọi là quân Tứ Linh. Nhưng theo tôi th́ là cờ của vườn trầu Hốc môn, Bà Điểm bây giờ.

      Những vườn trầu này danh tiếng đệ nhất miền Nam, lá trầu có thứ xanh, có thứ vàng, thuở xưa tổ tiên ta gọi là Blầu, Blù, về sau biến đổi thanh âm thành Tlầu, Tlù, rồi lần lần đổi ra thành Trầu, Trù. Nhưng người Trung hoa chính thống, vốn không dùng trầu cau như người Nam Á - Australio-Asiatiques - đă phiên âm na ná hai chữ Blầu, Blù thành Phù Lưu, mà họ đọc là Pù Lu, rồi sau cùng rút lại c̣n chữ Phù là trầu, phù viên là vườn trầu.Về danh từ Blàu, trong quyển tự vị Việt-Bồ - La Dictionnarium Annamiticum Lusitanum et Latinum của Alexandre de Rhodes, Roma 1651, nơi trang 41, cột B, có ghi như sau : Blàu : bétel : quoÇam folium indicumin modum haederae quod continuo in fignum benevolen. Tây Sơn thêu hoặc viết hai chữ Tứ Linh bằng chữ Nho.

   Đến năm Mậu Tuất 1778 th́ Nguyễn Nhạc lên ngôi, xưng Đế, mở kỷ nguyên Thái Đức. Suốt 8 năm ấy, Nhạc cử binh đánh cựu Nguyễn, chống binh Trịnh, phải động viên rất nhiều trong dân gian. Thành ra trong dân gian mới phát xuất những ca dao nỉ non than khóc :

Tiếng ai than khóc nỉ non
Là vợ chú lính trèo ḥn Cù Mông

    Đến tháng 7 năm bính Ngọ ( 1786 ) th́ công chúa Ngọc Hân, con gái thứ 21 của vua Lê Hiến tông ( 1740-1786 ) bấy giờ mới được 16 tuổi, vâng lệnh vua cha kết duyên với Nguyễn Huệ ( Đức Lệnh hay là Đức ông ). Cuộc cưới gả này v́ không có chuẩn bị trước, lại thêm Nam Bắc đôi đàng, xa xôi ngh́n dặm cho nên nhân sĩ Nguyễn Thời Thấu mới cảm đề thời sự mà làm một bài thơ, trong đó có mấy câu như sau:

Ngựa thồ thay mối xích thằng
Ông Tơ, Bà Nguyệt, dẫu dằng chẳng ra
Một ngày một vắng quê nhà
Sáng từng từng nhớ, tối tà tà trông...

      Trước đó 4 năm, vào tháng 10 năm Nhâm Dần, 1782, Nguyễn Hữu Chỉnh đang làm Hữu Tham quận ở Nghệ An th́ ở kinh đô Thăng Long có việc quân Tam Phủ nổi loạn. Chỉnh sợ vạ lây, phải đem cả gia đ́nh vào Qui nhơn, đầu quân anh em nhà Tây Sơn.

     Năm Bính Ngọ, 1786, Đức Lệnh Nguyễn Huệ cùng Chỉnh đem quân ra Bắc Hà, diệt Trịnh pḥ Lê, rồi bỏ Chỉnh ở lại Bắc v́ e ngại kinh luân, thao lược và mưu mô của Chỉnh. Sau đó, Chỉnh về lưu trấn ở Nghệ an, được vua Lê Chiêu Thống (1787-1789) vời về kinh hộ vệ và phong tước Bằng Quận công, tung hoành như con chim bằng, cho nên người đời lúc bấy giờ cũng gọi Chỉnh là con sáo.

     Chỉnh tự đặt ḿnh vào chức vụ của Trịnh, lập trại quân Vũ thanh, lập thế tử cho con là Nguyễn Hữu Dụ, rồi sai sứ bộ Trần công Sán vượt sông Gianh vào đ̣i đất Nghệ an, vốn là quê hương của ḍng dơi Tây Sơn, họ Hồ (cha là Hồ Phi Phúc, mẹ Nguyễn thị Đồng lúc vào ẩn tránh ở Qui nhơn mới đổi ra họ mẹ). Trước cảnh thay ḷng đổi dạ của Nguyễn Hữu Chỉnh đối với Bắc b́nh vương Nguyễn Huệ, người Bắc Hà đương thời đặt câu ca để chế giễu:

Ai đem con sáo sang sông
Nên chi con sáo xổ lồng sáo bay

         Nay tính lại th́ triều đại Tây sơn, kể từ khi dấy nghiệp (1789) cho tới khi diệt vong (1802), được chia ra hai đời vua : Nhạc-Huệ-Lữ và Quang Toản (Cảnh Thịnh), cộng được 14 năm, sau khi phải đương đầu với nhiều địch thủ hùng mạnh như cựu Nguyễn, vua Lê, chúa Trịnh và quân Măn Thanh, cho nên trong dân gian lúc ấy có truyền tụng hai câu:

Đầu cha lấy làm chân con
Mười bốn năm tṛn hết số thời thôi
Cha nhỏ đầu con nhỏ chân
Đến năm Nhâm Tuất th́ chân chẳng c̣n

    Nếu chúng ta chiết tự những chữ chính yếu trong hai câu này th́ chúng ta sẽ thấy: chữ Quang trong hiệu của cha là Quang Trung cho chữ tiểu là nhỏ ở trên đầu; c̣n chữ Cảnh trong hiệu của con là Cảnh Thịnh cũng có chữ tiểu là nhỏ ở dưới chân. Tính từ năm Kỷ Dậu 1789 là năm Lê mất, vua Quang Trung mới thật sự trị v́, đến năm Nhâm Tuất 1802 là năm nhà Tây Sơn bị diệt th́ vừa đúng 14 năm.

    Những ca dao trên đọc lên như là sấm kư, sấm ngữ, thường thường xuất hiện trước khi xảy ra sự việc, như là lời tiên tri của thần linh, để cho dân gian kiểm điểm mỗi khi ứng nghiệm. Và bây giờ chúng ta đương nhiên bước vào lănh vực sấm kư có liên hệ đến nhà Tây Sơn.

    Trong sấm Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm (1494-1595), câu sấm đầu tiên có nói tới nhà Tây Sơn là:

Hà thời biện lại vi vương
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn

     Thời nào mà có biện lại, tuần biện, thừa biện làm nên bậc đế vương trong lịch sử nước ta ? Chỉ có thời Tây Sơn mà thôi   : Nguyễn Nhạc từng làm thừa biện ở huyện Vân đồn, tỉnh Qui nhơn, sau xưng là Tây Sơn vương, mở đầu niên hiệu Thái Đức, lúc bấy giờ chẳng những phía Bắc Lê Trịnh phải dứt mà phía Nam cựu Nguyễn cũng phải t́m đường mà chạy. 

Lại thêm tám câu này trong sấm trạng:

Chim Bằng cất cánh về đâu
Chết tại trên đầu hai chữ Quận công
Bao giờ trúc mọc sang sông
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây
Đoài cung một sớm đổi thay
Chân cung sau cũng sa ngay chẳng c̣n
Đầu cha lộn xuống chân con
Mười bốn năm tṛn hết số th́ thôi

    Những câu này được giải thích và hiểu như sau: Nguyễn Hữu Chỉnh thường tự ví ḿnh với chim Bằng sau khi được vua Lê chiêu Thống phong chức Đại Tư Đồ, Bằng Trung Quận công, Chỉnh thừa thế lộng hành. Vua Quang Trung ở Huế bèn cử tướng Vũ văn Nhậm ra Bắc hạch tội bắt giết chết Nguyễn Hữu Chỉnh. Vua Lê Chiêu Thống cầu cứu nước Tàu.

     Vua Tàu bèn cử Tôn Sĩ Nghị đem quân sang nước Nam. Muốn vào thành Thăng long Nghị phải bắc một cái cầu nổi bằng tre. Lúc bấy giờ Nguyễn Huệ mới xưng Quang Trung Hoàng đế (1788), tức tốc dẫn quân ra Bắc để đánh đuổi quân Tàu và thống nhất sơn hà lần đầu tiên, cùng một năm với cách mạng Pháp (1789). Vua nhà Thanh là Càn Long phong Nguyễn Huệ làm An Nam Quốc vương, nhờ tài ngoại giao của Ngô Thời Nhậm.

Đoài cung là phương tây, trong kinh dịch nói là phần dưới, tức là ám chỉ Nguyễn Huệ th́nh ĺnh bị chứng huyết vận, áp huyết đứt mạch máu trên đầu (hémorragie célébrale) mà chết vào năm 1792. C̣n hai câu cuối cùng th́ cũng như hai câu đă giải thích trong phần trước nói về đầu cha và chân con.

Nguyên xưa kia, vào giữa thế kỷ XVII, ông tổ bốn đời của các nhà lănh tụ Tây sơn ở Nghệ an, đă bị chúa Nguyễn đày vào khai phá vùng An khê, tỉnh B́nh định, cư trú nơi ấp Tây sơn nhất. Nơi đây là ngả ba giao tiếp giữa người Kinh và người Thượng (gồm có thiểu số Jarai và Chàm), và cũng là cái chợ trao đổi thực phẩm như gạo, bắp, muối, gạc nai, dầu, tô hạp, mật ong và trầu nguồn.

    V́ lẽ đó mà nhà nước có đặt sở tuần ty, trông coi việc thâu thuế, trách nhiệm luôn về an ninh trật tự. Và Nguyễn Nhạc đă được nhà cầm quyền đương thời cử làm tuần ty, biện lại, có nhân viên thuộc hạ khá đông, vừa làm việc cho nhà nước vừa buôn bán làm ăn riêng cho ḿnh.   Rồi Nhạc đă dấy binh chống lại triều đ́nh, sau khi đă chiêu tập binh mă khá đầy đủ. Nhận thấy núi non hiểm trở, Nhạc nảy ra ư chí hùng cứ một phương, phất cờ khởi nghĩa, và trên ngọn cờ có viết hai chữ Tứ Linh, bao gồm Long, Ly, Quy, Phượng.

Từ vùng núi về đồng bằng có Tây sơn hạ đạo, c̣n từ vùng núi đi ra Bắc, theo đường Trường sơn, th́ có Tây sơn thượng đạo. Nguyễn Nhạc có lấy một người vợ lẻ gốc Bà nà, bà này đă góp công tiếp tế cho nghĩa quân. Ngày nay c̣n có miếu thờ Cô Hầu Bà nà, rất linh hiển. C̣n Nguyễn Nhạc được người Thượng gọi là Pô Nhạc, Nguyễn Huệ được gọi là Pô Huệ. Chữ Pô này thường đưọc viết là Poh (đọc kéo dài ra như Pua) và cùng một nguồn gốc ngôn ngữ với chữ Bua là Vua của chúng ta, trong hệ thống ngôn ngữ Nam Á đă nói ở trên.

Ở phía trên đèo An khê ngày nay c̣n có ḥn đá lớn và bằng phẳng, mà người Thượng gọi là Tơ Mo Poh Nhạc, có nghĩa là Ḥn đá Vua Nhạc. Tương truyền ngày xưa Nguyễn Nhạc thường khi qua lại nơi này hay ngồi lại nghỉ chân trên tảng đá to lớn ấy. Ngày nay dân làng c̣n nhắc lại sự tích ấy với ḷng cung kính một tảng đá mà họ cho là linh thiêng.

Từ căn cứ núi rừng ấy, Tây cơn đă hạ san năm 1771, mở cuộc trường chinh 14 năm trời (1771-1789), chiếm từng vùng, rồi thâu gồm cả nước lên ngôi cửu ngũ được 14 năm (1789-1802) th́ măn số đế nghiệp.

Trở lại sấm Trạng Tŕnh, chúng ta thấy ghi mấy câu h́nh như có liên hệ thời sự hiện đại:

Cũng có kẻ trè to lớn ấ Ngày
Lánh ḿnh vào ở nội Ngô Tề
Có thấy Nhân Thập đi về
Tả hữu phù tŕ, cây cỏ thành binh

Theo tôi, hai câu đầu ám chỉ người di cư tỵ nạn cộng sản, gồm có những người trốn đi bằng đường bộ (việt nhân, land people) và những người vượt biển trên ghe thuyền (thuyền nhân, boat people). Họ trốn ra khỏi nước để trôi giạt vào các nước lân cận, hoặc được vớt chở đi cac nước xa xôi khắp năm châu.

        C̣n hai câu sấm nối sau th́ chúng ta có thể hiểu rằng sẽ có vị lănh đạo, cứu tinh là Nhân Thập (có phải chữ Nhân cộng với chữ Thập thành chữ Ngọ chăng?). là nhân vật nào, đố ai mà biết! Câu cuối cùng Tả hữu phù tŕ, cây cỏ thành binh của sấm Trạng khiến tôi nhớ bài thơ cầu cơ năm 1975 của Thạch Hà và Minh Đức,    có đăng trong Việt nam Hải ngoại, San Diego, USA năm Kỷ Mùi 1979, như sau:

Tiếu khấp hưng vong thử tự tiền
Cửu niên bĩ cực đăi doanh niên
Hồng quân tà ố hà vô thức
Nhất tịch hà năng miễn đảo điên
Thảo mộc giai binh b́nh Việt quốc
Thịnh hưng nhi lai kiến thánh hiền
Thảm nhục thương tâm ai liệt sĩ
Khả tri minh chủ giá kim liên

   Bài này được Thạch Hà, Minh Đức giải nghĩa như sau :

Cười khóc hưng vong là chuyện từ xưa nay vẫn có
Hăy đợi qua chín năm đến năm thứ mười
Ai mà không biết cộng sản là đáng ghét
Một đêm nào đó chúng nó không tránh được đảo điên
Khi đó th́ cỏ cây sẽ là binh lính để b́nh định nước Việt
Mọi người sẽ hưng thịnh và gặp thánh hiền
Chỉ buồn cho các liệt sĩ đă chết v́ nước từ trước
Và khi ấy có thể biết người minh chủ như đoá sen vàng

   Trong sấm Trạng Tŕnh c̣n có hai câu này, thường được thiên hạ đem ra bàn luận :

Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn

      Chúng ta thấy chữ cửu là 9 như trong bài thơ cầu cơ của Thanh Hà, Minh Đức xin vua Nguyễn Huệ khi xưa. Số 9 đánh dấu một tiết đoạn trong cuộc tuần hoàn của vũ trụ, trong sự diễn tiến lịch sử của một dân tộc.

      Theo ông thầy th́ cửu cửu là 9 lần 9 thành 81. Số này là thời kỳ đô hộ Pháp tính từ năm 1862 ( hoà ước Nhâm Tuất ) mất ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, tiếp đến năm 1867 th́ mất luôn 3 tỉnh miền Tây, cho đến năm 1945 với cuộc đảo chính Nhật, mồng 9 tháng 3 dương lịch, và sự sụp đổ của nền đô hộ Pháp, đúng vào lúc Thanh minh thời tiết hoa tàn. Nhưng theo tôi, cửu cửu đây cũng có thể giải thích là cứ 9 năm th́ xảy ra một sự việc lớn, ảnh hưởng đời sống quốc gia và tương lai dân tộc.

Nh́n lại lịch sử cận đại Việt nam từ đầu thế kỷ XX tới nay, chúng ta có thể ghi những thời điểm rất quan trọng sau đây:
                  1907: vua Thành Thái bị truất phế đày vào Nam
                  1916: vua Duy Tân khởi nghĩa thất bại, bị đày sang đảo Réunion,
                           cùng với vua cha (Thành Thái)
                  1925: vua Khải Định mất, vua Bảo Đại nối ngôi (2-1926)
                  1936: Phong trào B́nh dân có nhiều cuộc biểu t́nh.
                  1945: Đảo chính Nhật (9-3), Việt minh cướp chính quyền (23-8)
                  1954: Hiệp định Genève (20-7) phân ra Nam Bắc. 
                  Sấm Trạng: Trực đảo đương đầu mă vỹ - Hồ binh bát vạn nhập Tràng an
                  1963: đảo chính 1-11, lật đổ Đệ nhất Cộng ḥa, thành lập Đệ nhị Cộng hoà
                  1972: Hoà đàm Ba lê kết thúc ngày 31-10, hiệp định kư ngày 21-7-73...
                  30-4-75 Bắc Việt xâm chiếm miền Nam, gây xáo trộn lớn ở Đông dương.
                  1981: Cộng sản đưa miền Nam vào con đường phân hoá, bần cùng và bế tắc, 
                            thuyền nhân tràn ngập Đông Nam Á

                 1990: Quốc tế xét lại toàn bộ các vấn đề Đông dương và Đông Nam Á trong
                          chiều hướng thuận lợi cho Việt nam quốc gia, ứng nghiệm hai câu :

                                     Thảo mộc giai binh b́nh Việt quốc
                                     Thịnh hưng như lai kiến thánh hiền

               
Lúc đó, cỏ cũng sẽ biến thành binh linh, hợp cùng hải ngoại hồi hương
          b́nh Việt nam, đem lại tự do và hạnh phúc cho trăm họ.

                                                                                     
                                                                                         Thái Văn Kiểm
                                                                Đặc san QUANG TRUNG TÂY SƠN Xuân Bính Tư 1996

                                                    

                              Nguồn GốcSáng Lập | Chương Tŕnh HL HLVSinh Hoạt     
                                       
    Liên Lạc | Bài ViếtNơi Khác | Trang Chính         

 
            Đoàn Vơ Thuật Cổ Truyền Việt Nam B́nh Định Sa Long Cương
                                    tại Austin, TX. Hoa Kỳ  (  1998  )